Hồi ức về trường Đại Học Văn Khoa Huế

5.jpg

Lời thưa: Trần Công Tín với Hồi ức về trường Đại Học Văn Khoa Huế, nói về Trường lớp, thầy cô… Nguyên Đình – đồng môn và đồng nghiệp năm nào – xin giới thiệu để kính tưởng thầy cô và bạn học… mà nhiều thầy cô và có bạn đã ra đi …

Năm 1957, Viện Đại Học Huế được thành lập, đứng đầu là ông Viện Trưởng, văn phòng viện đặt tại số 3 Lê Lợi (hiện nay vẫn còn) điều khiển tổng quát 5 phân khoa: Đại học Luật (ở đầu đường Lê Lợi _ đối diện với tòa đại biểu cũ); Đại học Văn Khoa, Khoa Học và Sư Phạm (3 phân khoa này trước 1963 đều tọa lạc tại Morin, bắt đầu 1964, trường Sư Phạm tách riêng ra tại địa điểm sư phạm ngày nay); Đại học Y Khoa (ở đường Ngô Quyền, gần bệnh viện TW Huế). Đứng đầu mỗi khoa là ông Khoa Trưởng, dưới khoa có các ban, dưới quyền điều khiển của Trưởng ban.

Trừ trường Sư Phạm, sinh viên muốn vào học phải trải qua 1 kỳ thi rất cam go, còn các phân khoa khác sinh viên đều được ghi danh, miễn thi. Sở dĩ như vậy là vì hồi đó học sinh trung học ở cuối cấp phải trải qua 2 kỳ thi vô cùng khó khăn (cách nhau 1 năm): Tú tài 1 gọi là Tú tài bán phần và Tú tài 2 gọi là Tú tài toàn phần. Học sinh lớp Đệ Nhị (lớp 11 ngày nay) có khoảng 100 người thì qua 2 kỳ thi này chỉ còn chừng 20 người tốt nghiệp. Do đó, các phân khoa Đại học đủ chỗ để thu nhận sinh viên và sinh viên được miễn phí hoàn toàn, riêng Sư Phạm thì có học bổng khá lớn.

Khoa Luật, Khoa Y và Sư Phạm học theo niên chế: năm 1, năm 2, năm 3, năm 4… Luật học 4 năm, Y khoa 1 năm dự bị cộng với 6 năm học, Sư Phạm 4 năm.

Khoa Học và Văn Khoa học theo chứng chỉ: Dự bị cộng với 4 chứng chỉ khác thì đủ cử nhân. Ngoài chứng chỉ dự bị, sinh viên buộc phải học 1 năm, còn các chứng chỉ sau sinh viên có quyền ghi danh 1 năm 2 chứng chỉ. Như vậy đối với 1 số sinh viên, họ có thể tốt nghiệp cử nhân trong vòng 3 năm.

Các chứng chỉ của Đại học Văn Khoa như sau:

1. Cử nhân giáo khoa ban Việt Văn:

– Chứng chỉ Dự bị

– Chứng chỉ văn chương Việt Nam

– Chứng chỉ Ngữ học Việt Nam

– Chứng chỉ Hán văn

– Chứng chỉ sử Việt Nam và Đông Nam Á hay Chứng chỉ lịch sử triết

2. Cử nhân giáo khoa ban Pháp văn:

– Chứng chỉ Dự bị

– Chứng chỉ văn hóa Pháp

– Chứng chỉ văn chương Pháp

– Chứng chỉ ngữ học Pháp

– Chứng chỉ văn chương Việt Nam

3. Cử nhân giáo khoa ban Anh văn:

– Chứng chỉ Dự bị

– Chứng chỉ văn hóa Anh Mỹ

– Chứng chỉ văn chương Anh Mỹ

– Chứng chỉ ngữ học Anh

– Chứng chỉ văn chương Việt Nam

4. Cử nhân giáo khoa ban Triết học:

– Chứng chỉ Dự bị

– Chứng chỉ lịch sử triết

– Chứng chỉ luận lý và siêu hình

– Chứng chỉ đạo đức và xã hội học

– Chứng chỉ tâm lý

5. Cử nhân giáo khoa ban Sử học:

– Chứng chỉ dự bị

– Chứng chỉ sử Việt Nam và Đông Nam Á

– Chứng chỉ sử Tây phương

– Chứng chỉ phương pháp sử học

– Chứng chỉ địa lý đại cương

Như vậy ta thấy ở các ban Việt văn, Anh văn, Pháp văn, sinh viên buộc phải có chứng chỉ Văn chương Việt Nam mới được gọi là cử nhân giáo khoa. Đây là 1 trở ngại rất lớn đối với tất cả mọi người vì ở chứng chỉ này, thầy Lê Tuyên (giáo sư chủ chốt) rất nghiêm khắc, bài giảng lại vô cùng khó hiểu. Vào lớp, thầy nói thao thao bất tuyệt, đem triết lý vào văn học. Hiểu được điều thầy nói là cả 1 vấn đề, sinh viên đều ngán, đều sợ. Trước 1965, số sinh viên vượt qua cửa ải của thầy rất thấp, sau đây là vài con số:

Niên khóa 62-63: Khóa 1: 4/39. Khóa 2: 10/38

Niên khóa 63-64: Khóa 1: 2/34. Khóa 2: 7/30

Niên khóa 64-65: Khóa 1(khóa tôi thi đỗ):10/47. Khóa 2:10/45

Đối chiếu với chứng chỉ Hán văn,( chứng chỉ dễ nhất )vì các cụ già đều rộng lượng, khoan dung, lại ra thi trong 1 số ít bài hạn chế mà thôi:

Niên khóa 62-63: Khóa 1:13/16. Khóa 2: 1/7

Niên khóa 63-64: Khóa 1: 13/20. Khóa 2: 3/7

Niên khóa 64-65: Khóa 1: 11/17. Khóa 2: 4/9

(Chú thích: Mỗi chứng chỉ sinh viên được thi 2 lần gọi là 2 khóa, rớt khóa 1 (thường tổ chức vào tháng 6) sinh viên sẽ thi khóa 2 vào tháng 9. Có sinh viên không thi khóa 1 vì chưa chuẩn bị đủ bài vở nên chỉ xin thi khóa 2, nhà trường đều chấp nhận.

Tài liệu này tôi lấy từ quyển “Chương trình Đại học Văn Khoa 1965-1966” của trường Đại học Văn Khoa Huế xuất bản, trong đó có ghi tên đầy đủ của các vị giáo sư, chương trình học của mỗi chứng chỉ và sĩ số thí sinh thi đậu.)

Từ niên khóa 65-66 trở về sau, thầy Lê Tuyên không còn dạy ở Huế nữa nên sinh viên dễ thở hơn, số người đậu chứng chỉ văn chương Việt Nam chiếm đến 50%.

Ba trường Sư Phạm, Văn Khoa và Khoa Học đều gắn bó với nhau chặt chẽ vì các lẽ sau:

– Ba trường đều nằm chung ở khuôn viên Morin, dùng chung giảng đường C. Sau 1964, trường Sư Phạm tách ra nhưng cũng không cách xa bao nhiêu.

– Các vị thầy của Khoa học, Văn Khoa đều có dạy ở sư phạm (đồng môn).

– Sinh viên Sư Phạm đều được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để học Văn Khoa hoặc Khoa Học, thậm chí niên khóa 66-67, năm cuối cùng của tôi ở Sư Phạm, khoa trưởng Lê Trọng Vinh còn chủ trương: ở Sư Phạm sinh viên chỉ học những vấn đề chuyên môn còn văn hóa thì học Văn Khoa hoặc Khoa Học, cụ thể là niên khóa 66-67 nhà trường buộc chúng tôi phải học chứng chỉ Hán văn ở Văn Khoa và lấy điểm thi của chứng chỉ này cộng vào điểm nghiệp vụ ở Sư Phạm để xét tốt nghiệp.

Từ năm 1966 trở về trước, sinh viên Sư Phạm chúng tôi học cả 2 trường mà mỗi trường đều có chương trình riêng biệt, nên lẽ dĩ nhiên chúng tôi không thể nào có mặt thường xuyên ở Văn Khoa được. Do đó, cần phải làm quen với các sinh viên chính gốc Văn Khoa để mượn vở chép lại bài giảng và nhờ họ giảng giải những điều cần thiết. Tôi nghiệm thấy làm quen với người khác phái thì thuận tiện hơn, bởi thế mặc dù nhút nhát nhưng tôi cũng cố làm quen với các nữ sinh viên. Nói về tuổi, tôi chẳng nhỏ gì, nhưng trông dáng người nhỏ nhắn lại dễ thương, ngây thơ nên các chị đều có cảm tình, thích trò chuyện và xem như em út trong nhà, tận tình chỉ bảo, bày vẻ những bí quyết học thi.

Niên khóa 63-64, tôi ghi danh học Dự bị Văn Khoa ban Pháp văn, đó là 1 điều khác lạ với các bạn Sư Phạm cùng lớp vì tất cả đều chọn ban Hán Văn.

Dự bị Văn Khoa có tất cả 3 ban: Hán, Pháp và Anh. Ngoài các môn học chung tại giảng đường C (Triết học, Văn học Việt Nam, Sử và Địa) sinh viên còn phải học them các môn riêng cho ban mình ở các phòng nhỏ hơn.

Về môn Triết, tôi học với Tiến sĩ Trần Văn Toàn (tốt nghiệp ở Bỉ) mỗi tuần 4 giờ về Triết học đại cương. Thầy người Bắc, cận thị nặng, phát biểu chậm rãi, pha chút khôi hài. Câu thầy thường nói là: “Nghiêm nghị như con trâu thì không thể có Triết học được.” Những bài giảng của thầy sau này in thành sách dưới nhan đề “Hành trình vào Triết học” được giới trí thức tán thưởng, khen ngợi. Thầy hiện giờ sống ở nước ngoài, tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy. Cách đây mấy năm, thầy có về Huế, dự hội thảo về linh mục Cadière, linh hồn của tạp chí B.A.V.H nghiên cứu về Huế, rất có giá trị.

Về môn Văn học Việt Nam, chúng tôi học với thầy Đoàn Khoách và thầy Phạm Viết Tuyền(người Bắc, chủ nhiệm nhật báo Tự Do ở Sài Gòn).

Môn phương pháp Sử do linh mục Nguyễn Phương phụ trách. Linh mục có nhiều kiến giải rất khác lạ về Lịch sử Việt Nam, chẳng hạn bác bỏ truyền thuyết Hùng Vương, gây ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi trên văn đàn. Linh mục tính khôi hài, hay nói đùa nên giờ giảng của ông rất vui, không khí phòng học lúc nào cũng sôi động.

Môn Địa lý đại cương do linh mục Nguyễn Hòa Nhã (giáo sư thỉnh giảng từ Sài Gòn) phụ trách. Kiến thức của linh mục phong phú, bài học có bề sâu thật sự.

Về môn Pháp văn, mỗi tuần tôi phải học 10 giờ dưới sự hướng dẫn của các vị sau:

– Linh mục Zukenly: người dong dỏng cao, giảng bài chậm rãi, dể hiểu, hấp dẫn. Thầy dạy 4 giờ/ tuần (2 giờ về giảng văn các bài trích trong những tác phẩm thế kỷ XX và 2 giờ nghiên cứu, phân tích tác phẩm Cyrano de Bergerac, hài kịch bi hùng bằng thơ 5 hồi của E.Rostand). May mắn là những giờ của linh mục, tôi đều có điều kiện theo học đầy đủ suốt niên khóa. Tác phẩm này tôi rất say mê và chép lại học thuộc lòng vài đoạn tình cảm ướt át, cảm động đầy kịch tính, đó là đoạn Cyrano đọc bức thư tuyệt mệnh cho nàng Roxane xinh đẹp nghe trước khi anh ta từ giã cõi đời, lúc đó nàng mới thấu hiểu tấm chân tình, nỗi niềm vô vọng của chàng trong suốt 15 năm qua và thốt lên lời: “Em yêu anh.” Nghe xong lời đó thì chàng từ từ nhắm mắt, mãn nguyện.

– Thầy Đỗ Long Vân, mỗi tuần dạy 2 giờ về dịch thuật. Vì trùng giờ nên tôi ít khi có mặt.

– Thạc sĩ Cauro, mỗi tuần dạy 2 giờ về Văn học hiện sinh và phân tích tác phẩm Le Mur của J.P.Sartre. Thầy giảng rất hay, phân tích sâu sắc, tiếc là tôi không được thụ giáo trực tiếp mà chỉ nghe các chị nói lại. Thầy đẹp trai, trẻ trung, khiến nhiều cô mê say, ngưỡng mộ.

– Thầy Bolliet, dạy 1 tuần 2 giờ về phân tích văn phạm. Tôi cũng ít khi được tham dự, chỉ mượn vở về chép và nghe giảng lại.

Nhờ học chăm chỉ nên cuối niên khóa, tôi đậu luôn Dự bị Sư Phạm lẫn Dự bị Văn Khoa ngay kỳ đầu (vào khoảng tháng 6).

Qua niên khóa 64-65, tôi ghi luôn 2 chứng chỉ và đều xin thi ở kỳ đầu:

1. Lịch sử Triết: Lớp học chỉ có 9 người và đều ngồi bàn đầu cả. Anh Trần Xuân Kiêm (chủ tịch tổng hội sinh viên Huế) và chị Phùng Thăng (dịch giả tác phẩm “Câu chuyện của dòng sông” của Hermann Hesse) đều học với tôi ở chứng chỉ này Sau này, 2 người kết hôn với nhau. Chị Phùng Thăng có người chị ruột là chị Phùng Khánh, tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Anh văn khoảng năm 1960, sau khi đi tu lấy pháp danh là ni cô Trí Hải, rất nổi tiếng trong nước và cả thế giới. Ni cô tử nạn vì giao thông cách đây chừng 10 năm, để lại nhiều thương tiếc cho mọi người vì ni cô là 1 nhà chân tu, đạo hạnh, chuyên làm nhiều việc thiện.

Ở chứng chỉ này, tôi học với các vị sau:

– Thầy Trần Văn Toàn: Thầy phụ trách mỗi tuần 4 giờ về Triết học cổ đại Hy Lạp.

– Thầy Đoàn Văn An (Thích Thiên Ân), từ Sài Gòn ra, dạy về Triết học Zen.

– Thầy Pierre Đỗ Đình: dạy về Triết học Đông phương.

– Thầy Lâm Ngọc Huỳnh (khoa trưởng): dạy Triết học hiện sinh, bình giảng về tác phẩm Traité du Désespoir của Kierkegaard.

2. Chứng chỉ Văn chương Việt Nam:

Chứng chỉ này do các vị sau phụ trách:

– Thầy Lê Tuyên: dạy giảng văn và phân tích tác phẩm Cung oán ngâm khúc. Thầy mặt trắng trẻo, mang gương cận thị, tướng người nho nhã nhưng lại rất nghiêm nghị, không bao giờ đùa giỡn, chấm bài khắt khe, bài giảng khó hiểu nên ai cũng sợ.

– Thầy Vương Hồng Sển: Thầy là nhà khảo cổ lừng danh khắp nước, viết rất nhiều tác phẩm nghiên cứu có giá trị. Khác với thầy Lê Tuyên, thầy Sển rất vui tính, xuề xòa, giảng bài như nói chuyện chơi, lúc nào cũng cười đùa, dùng chữ bình dân dễ hiểu nhưng vẫn chứa nhiều kiến thức mới lạ, bổ ích. Thầy phụ trách môn Văn học miền Nam. Ở môn thầy có khá nhiều sinh viên được điểm trên trung bình.

– Thầy Thuần Phong: Phụ trách môn văn chương bình dân (ca dao, tục ngữ…).

Niên khóa này, tôi lại may mắn đậu luôn cả 2 chứng chỉ ở ngay kỳ đầu, trước sự ngỡ ngàng của bạn bè.

Qua niên khóa 65-66, tôi ghi danh học chứng chỉ Hán văn và Ngữ học Việt Nam.

1. Hán văn: Đa số các vị giáo sư dạy môn này đều có tuổi:

– Thầy Phạm Lương Hàn: Tóc bạc phơ, thầy dạy các tác phẩm chữ Hán (các bài phú, từ, ký, thơ, tản văn…) của các nhà văn Trung Hoa như Tô Đông Pha, Hàn Dũ, Lý Bạch, Đào Tiềm… Mỗi năm, thầy dạy khoảng 30 bài nhưng cuối năm, thầy hạn chế chỉ còn khoảng 10 bài ôn tập. Bởi thế những người không chuyên như tôi cần phải liên lạc với các bạn Văn khoa để biết những chi tiết cần thiết, thế nhưng không phải lúc nào cũng gặp được người tốt bụng chỉ vẻ tận tình. Có 1 số người bạn của tôi, vì hỏi nhầm người nên thay vì học 8 bài theo đúng đề cương thì phải học đến 15 bài. Còn tôi thì khá may mắn khi gặp được các nữ sinh viên rất nhiệt tình giúp đỡ nên không mấy khó khăn trong việc nắm được bài vở để ôn tập.

– Thầy Hàn tính tình rất thật thà nên sinh viên chúng tôi thường lợi dụng để hỏi các chữ khó. Hồi ấy, đề thì được quay Rô-nê-ô rồi phát cho thí sinh, do đó có vài chữ rất mờ, phải hỏi lại các giáo sư. Nếu hỏi thầy Đoàn Khoách hoặc Nguyễn Văn Dương thì thầy sẽ viết lại các chữ ấy trên bảng 1 cách rõ ràng hơn rồi im lặng, khiến chúng tôi càng thêm ngơ ngác. Còn thầy Hàn thì vừa viết lại vừa đọc âm và giảng nghĩa luôn chữ đó: chẳng hạn chữ “Viên” nghĩa là tròn. Vì vậy, hễ chữ nào không biết, thì sinh viên lại cầu cứu và bảo chữ mờ. Có lần thầy phải bực tức la lên: “Chữ nào cũng mờ hết, thế là nghĩa làm sao? Thôi, không được hỏi nữa, lo làm đi, không chịu học, cứ kêu van mờ mãi.” Nói thế, nhưng thầy vẫn đọc âm và giảng nghĩa như thường, nhờ vậy những khó khăn ban đầu, chúng tôi vượt qua dễ dàng và anh nào cũng đạt điểm khá cao. Nghĩ lại thật vui!

– Linh mục Nguyễn Văn Thích: Nhà giáo tận tụy, yêu nghề, hăng say với công việc, chấn hưng Cổ học. Đề thi của linh mục chẳng có gì khó chỉ quanh quẩn trong mười bài mà linh mục đã giảng đi giảng lại trong lớp, sinh viên chỉ cần học thuộc lòng và chép lại. Đơn giản có thế, nhưng cũng có sinh viên hỏng vì họ chép sai, chữ nọ lộn chữ kia, thiếu nét v..v..

– Thầy Hồ Đắc Định: Thầy cho học những bài thơ ngắn rồi đặt các câu hỏi để trả lời (lẽ dĩ nhiên bằng chữ Hán). Sức học của sinh viên làm sao viết 1 đoạn văn chữ Hán cho được, nên tốt hơn hết là học thuộc lòng các câu trả lời của thầy và cứ thế mà chép lại trong bài thi. Mỗi năm, thầy cho học chừng 15 bài thơ và 30 câu trả lời. Sinh viên trang bị chừng ấy là đủ có điểm cao ở môn thi thầy Định, có điều là phải chép cho đúng mặt chữ, nếu sai thì đừng hòng thi đỗ.

– Cô Khưu Thị Huệ: Đặc biệt, từ niên khóa 65-66, chứng chỉ Hán văn có mở thêm môn Bạch Thoại (dạy đàm thoại, giao tiếp và các bài văn hiện đại), trường mời cô Khưu Thị Huệ ở Sài Gòn ra giảng dạy. Mỗi lần, cô dạy chừng 20 giờ liên tục. Dáng người cô cân đối, mắt đen, tròn xoe, khoảng 30 tuổi, vô cùng xinh đẹp khiến học trò phải nhìn ngắm mê mải. Các nữ giáo sư Đại học không có mấy người đẹp (trừ cô Trương Tuyết Anh mà Bảo Cự say mê nhưng so với cô Huệ thì chẳng sánh bằng), bởi thế sự xuất hiện của giai nhân như cô Huệ đã làm xôn xao dư luận. Sinh viên các ban khác cũng kiếm cớ đi ngang nhìn ngắm khiến anh em chúng tôi rất hãnh diện.

Giờ ta chơi, chúng tôi bao vây để hỏi cái này, cái khác, không muốn rời xa. Người có chuyện lên hỏi đã đành, người không có vệc gì cũng xớ rớ đứng bên để nhìn ngắm. Cô luôn miệng hỏi: “Nị wan sơ mo? (anh hỏi cái gì?)”. Có anh lúng túng đỏ mặt trả lời: “Pu sư (không có gì hết)” nhưng cũng không chịu rời bàn giáo sư. Nghĩ lại thật vui!

2. Chứng chỉ Ngữ học Việt Nam:

Ở môn học này , tôi học với các vị sau:

– Thầy Huỳnh Đình Tế: Một giáo sư vô cùng uyên bác, tài năng tuyệt vời, giỏi cả Anh, Pháp và Việt. Ở ban nào thầy dạy cũng hay, cũng khiến sinh viên vô cùng cảm phục. Bằng cấp của thầy rất nhiều: tiến sĩ, thạc sĩ của các trường Đại học danh tiếng của Mỹ, Pháp, Anh. Thầy là giáo sư cơ hữu của Huế và được Sài Gòn mời vào dạy. Thầy cũng thường đi dự các cuộc hội thảo quốc tế về ngôn ngữ học và đem lại niềm vinh dự cho giới trí thức Việt Nam. Thầy dạy chúng tôi Ngữ học nhập môn và Âm vị học, 2 môn khá khô khan và khó hiểu nhưng thầy giảng quá hay, quá rõ ràng nên chúng tôi thâu thái rất dễ dàng, thật tuyệt vời. Thầy là 1 trong những vị giáo sư mà tôi trọng nể nhất và chẳng bao giờ quên ơn. Sau 1975, thầy qua Mỹ sống với gia đình và mất cách đây khoảng 10 năm, tro cốt được người em đem về chôn cất tại Huế.

– Thầy Trương Văn Chình: Khoảng 60 tuổi, đẹp lão, đầu tóc bạc phơ. Thầy dạy ngữ pháp Việt Nam theo 1 hướng mới. Công trình biên kháo của thầy (cộng tác với Nguyễn Hiến Lê) rất có giá trị, được giới học giả hoan nghênh. Vài tháng, thầy từ Sài Gòn ra Huế dạy khoảng 20 giờ.

– Thầy Giản Chi Nguyễn Hữu Văn: Thầy người Bắc, tuổi ngoài 50, tướng vạm vỡ, tóc húi cao, phát biểu sang sảng, rõ ràng. Thầy qua đời năm 2005 ở Sài Gòn, thọ 102 tuổi. Thầy phụ trách môn Ngữ biến học (chữ Nôm). Các giờ thầy dạy, vì trùng với sư phạm nên tôi chẳng tham dự được, tuy thế, ở Sư phạm, tôi đã học liên tiếp 3 năm với thầy Lê Văn Hoàng (mỗi tuần 4 giờ) nên cũng có được 1 vốn liếng kha khá đủ để ứng thí.

Vào vấn đáp môn của thầy Văn, tôi bốc thăm trúng đề: “Cách chế tác chữ Nôm và viết 20 chữ Nôm mà anh biết”. Tôi trả lời song suốt, minh chứng đầy đủ, thầy khen giỏi. Đến phần viết 20 chữ Nôm, vì không biết thầy dạy ra sao nên tôi cứ viết theo những chữ đã học với thầy Hoàng mà như ta đã biết mỗi chữ nôm có nhiều cách viết khác nhau và cũng có nhiều cách đọc khác nhau. Tôi viết chừng nào thì sinh viên bên dưới bàn tán xôn xao chừng ấy vì khác với cách dạy của thầy Văn. Thầy phải giải thích: “Anh Tín viết đúng hết, 5 chữ khác với những gì tôi dạy là vì tôi dạy theo tự điển Génibrel còn anh Tín lại viết theo truyện Kiều ( thật sự tôi chỉ theo thầy Hoàng chứ chẳng biết lấy ở đâu), còn 10 chữ mới là do anh nghiên cứu, tìm tòi thêm, chỉ có 5 chữ là giống của tôi.” Sau đó thầy cho tôi 15/20 (một điểm số rất lớn) và khen ngợi tôi với các đồng nghiệp và học trò. Đúng là tôi gặp may, chứ tôi mà giỏi gì, so với anh bạn Huỳnh Châm thì thua xa.

Tinh thần giáo dục của thầy rất phóng khoáng, cởi mở: Trước sự thật rành rành là tôi thiếu chuyên cần, thế mà thầy vẫn khen ngợi, không bực tức, ghét bỏ. Thật đáng phục! Và nhờ vậy, năm 1967, khi vào Sài Gòn để tìm cách học lên cao vì hồi đó Văn Khoa Huế chỉ dạy ngang cử nhân, tôi đã tìm đến nhà thầy ở đường Hoàng Diệu vùng Khánh Hội để nhờ thầy giới thiệu với thầy Nghiêm Toản đỡ đầu làm Tiểu luận cao học. Thầy vui vẻ nhận lời và ân cần viết thư giới thiệu mà không hề đòi hỏi phong bì hay quà cáp gì. Thầy Nghiêm Toản cũng vậy, tất cả đều làm theo đúng lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Nghề giáo đúng là nghề thanh cao, trong sạch!

Niên khóa 65-66 này, tôi cũng đậu luôn cả 2 chứng chỉ ngay kỳ đầu. Thế là tôi đã hoàn thành cử nhân trong vòng 3 năm trong khi ở Sư Phạm tôi còn phải học thêm 1 năm nữa mới tốt nghiệp (anh Trần Duy Phiên cũng giống như tôi), vì vậy năm cuối ở Sư Phạm tôi chỉ học các môn nghiệp vụ mà thôi, rất thong dong. Tôi chẳng ghi danh học thêm 1 chứng chỉ nào cả mà lang thang tham dự chỗ này 1 ít, chỗ khác 1 ít. Tôi có học Anh văn với bà Huỳnh cùng Bảo Cự nữa và cảm nhận được tâm tình của bạn.

Bây giờ, đã gần 50 năm trôi qua, nhìn lại quãng thời gian 63-67, tôi nhận thấy:

1. Sống trong thời ly loạn, sinh viên đều có ý thức xã hội rất cao. Mọi người mong muốn làm 1 cái gì đó để đem lại thanh bình, hạnh phúc cho xứ sở, họ hạ bệ người này, ửng hộ người khác, xuống đường rồi đả đảo, hoan hô, có khi họ lại mơ mộng làm tổng thống để trổ tài kinh bang tế thế, loay hoay tìm kiếm 1 lối thoát trong hoàn cảnh bế tắc. Có người tìm được lý tưởng để noi theo, 1 số khác ôm mộng rồi vỡ mộng.

2. Sinh viên tranh đấu không phải là những người học dốt, bất tài, trái lại có nhiều người rất giỏi … Khi tranh đấu, họ là người hăng say, nhưng lúc trở lại giảng đường họ lại là những sinh viên xuất sắc,đạt được nhiều thành tích khả quan trong việc học tập.

3. Các giáo sư Đại học là những người rất công tâm, không biết nhận quà cáp, thương yêu sinh viên, lại có tấm lòng rộng mở (trường hợp Bảo Cự dám viết thư tỏ tình với cô giáo, vợ khoa trưởng, vậy mà họ vẫn chấm đậu cao). Còn tôi, thiếu chuyên cần nhưng trả lời trôi chảy, vẫn được thầy Văn khen ngợi, lại còn khám phá những ưu diểm mà tôi không nghĩ rằng mình có.

4. Trừ chứng chỉ Hán văn, chúng tôi phải học thuộc lòng, còn các chứng chỉ khác, giáo sư đều khuyến khích óc sáng tạo, không hoàn toàn lệ thuộc vào bài giảng của thầy. Bởi thế chúng tôi phải đọc sách ngoài thật nhiều rồi vận dụng vào bài làm mới mong có điểm cao. Vì thế, tình trạng học bài như vẹt rồi trả lại y nguyên không bao giờ xảy ra. Sinh viên nói chung đều ham đọc sách, ham nghiên cứu, đây là 1 ưu điểm trong việc giáo dục thời ấy. Chính vì lẽ đó nên mãi đến bây giờ, dù đã bước vào tuổi thất thập nhưng anh em chúng tôi vẫn chẳng ai chịu rời quyển sách, học, học nữa và học mãi.

Trên đây là vài nét phác họa sơ lược về quãng đời học hành của thế hệ chúng tôi cùng vài kỷ niệm thời trai trẻ, nếu có gì sai sót, xin các bạn đồng trang lứa bổ khuyết cho để lớp người sau được biết có 1 thời ông cha họ đã sống như thế. Xin cảm ơn!

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s